Các tập đoàn dược phẩm và trò kinh doanh bệnh tật

SGTT.VN – Thế giới tuần qua đã rúng động trước thông tin hãng dược khổng lồ GlaxoSmithKline (GSK) bị phạt 3 tỉ đôla vì tội quảng cáo gian dối và hối lộ bác sĩ kê toa. Vụ lừa đảo y tế lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ này đã vạch trần bộ mặt thật của những người nhân danh bảo vệ sức khoẻ con người nhưng thực chất là những kẻ buôn bán bệnh tật.

Kỳ 1: Buôn bán bệnh tật

Phát biểu trên tạp chí Fortune trước khi về hưu vào năm 1976, Henry Gasden, giám đốc điều hành của Merck, một trong những tập đoàn dược phẩm lớn nhất thế giới, thổ lộ giấc mơ biến Merck thành một công ty sản xuất kẹo cao su như Wrigley, nghĩa là bán thuốc cho mọi người, không chỉ người bệnh mà cả… người khoẻ!

Trong phán quyết ngày 2.7, bộ Tư pháp Mỹ khẳng định GSK đã tiếp thị trên thị trường những loại thuốc chưa được cấp phép, che giấu những dữ liệu liên quan đến độ an toàn của các loại dược phẩm và có hành vi hối lộ liên quan tới chương trình Medicaid của Chính phủ Mỹ.

Mở rộng ranh giới bệnh

Năm 2003, trong một bài báo có tựa đề Nghệ thuật tạo ra một thân phận (tạm dịch từ The Art of Branding a Condition), Vince Parry, một trong những chuyên gia nổi tiếng về quảng cáo thuốc, đã tiết lộ bí quyết hợp tác với các hãng dược phẩm để thúc đẩy sự “tạo ra những rối loạn y học”. Chiến lược của Parry gồm ba bước: nâng cao tầm quan trọng của những triệu chứng bệnh tật, định nghĩa lại một thân phận đang hiện hữu và “phát triển một thân phận mới cho một nhu cầu thị trường chưa được khai thác”.

Thật ra chiến lược làm ăn của Parry và các hãng dược phẩm không lạ bởi nó đã được Lynn Payer đề cập từ năm 1992 bằng thuật ngữ “buôn bán bệnh tật” (tạm dịch từ “disease-mongering”). Theo nhà báo y tế người Mỹ này, đây là một tiến trình gồm nhiều hình thức khác nhau nhằm gia tăng sự tiêu thụ dược phẩm trong đó có việc đưa ra những yếu tố nguy cơ mới về bệnh tật, biến những vấn đề sức khoẻ nhẹ thành vấn đề nghiêm trọng, mở rộng những định nghĩa bệnh tật sẵn có và tạo ra những dạng bệnh tật mới.

Bất công về tiêu thụ dược phẩmTheo các nhà nghiên cứu, tâm điểm của chuyện “buôn bán bệnh tật” là nước Mỹ, vì dù chỉ chiếm 5% dân số thế giới, người Mỹ tiêu thụ tới 50% thị trường thuốc kê đơn toàn cầu. Trong hai thập kỷ qua, người Mỹ chi cho thuốc men bằng hoặc nhiều hơn chi cho giáo dục đại học và mua xe hơi. Một nghiên cứu vào năm 2005 cho thấy người Mỹ thừa nhận họ sử dụng thuốc kê toa nhiều hơn gấp đôi kể từ năm 1992 – 2003.Trong khi đó, ở nhiều nước đang phát triển, con người lại không có thuốc để dùng. Ở vùng hạ Sahara của châu Phi, 500 triệu người dân nghèo khổ đang đối mặt với những căn bệnh nhiệt đới hoàn toàn có thể phòng ngừa và chữa trị được như bệnh giun móc và sán máng.

Trong nhiều thập kỷ, các hãng dược phẩm khai thác tối đa chiến lược “buôn bán bệnh tật” này: đỏ mặt trở thành dấu hiệu của chứng rối loạn lo âu xã hội, mãn kinh – sự thay đổi tự nhiên của cuộc sống – biến thành một tình trạng thiếu hụt hormon, những khó khăn tình dục đời thường bị nhào nặn thành rối loạn chức năng tình dục, phụ nữ trung niên được cảnh báo bởi một căn bệnh xương tiềm ẩn gọi là loãng xương, còn nam giới trung niên được cảnh báo về tình trạng tăng cholesterol máu.

Khó biết được chính xác các hãng dược phẩm đã bỏ túi bao nhiêu trong trò kinh doanh bệnh tật, nhưng chỉ riêng món thuốc hạ cholesterol máu là statin, hàng năm các đại gia như Bayer (Đức), AstraZeneca (Anh – Thuỵ Sĩ) và Pfizer (Mỹ) đã ẵm gọn 25 tỉ đôla Mỹ! Doanh số chắc chắn không dừng lại ở đây khi định nghĩa tăng cholesterol của viện Sức khoẻ quốc gia Hoa Kỳ được điều chỉnh xoành xoạch: dựa vào định nghĩa của năm 2001, nước Mỹ có 36 triệu người được cảnh báo tăng cholesterol và cần uống thuốc, nhưng với định nghĩa cập nhật năm 2004 con số đó tăng lên 40 triệu người! Có thêm nhiều bệnh nhân, các hãng dược phẩm càng có thêm tiền.

Tiếp thị nỗi sợ hãi và quảng cáo láo

Trong cuốn Buôn bán bệnh tật: Làm thế nào những công ty dược phẩm lớn nhất thế giới biến chúng ta thành bệnh nhân (Selling sickness: How the world’s biggest pharmaceutical companies are turning us all into patients), nhà báo Ray Moynihan và nhà nghiên cứu chính sách Alan Cassels cho biết, mặc dù có nhiều chiến dịch “buôn bán bệnh tật” khác nhau, nhưng nhìn chung người ta thường dùng cách tiếp thị nỗi sợ hãi đến người tiêu dùng. Theo đó, nỗi sợ bị nhồi máu cơ tim được sử dụng để hù doạ phụ nữ khi cho rằng hội chứng tiền mãn kinh của họ cần phải áp dụng liệu pháp thay thế hormon. Tương tự, các bậc cha mẹ bị hù doạ rằng con cái họ có thể tự tử nếu những cơn trầm cảm nhẹ không được điều trị bởi những loại thuốc mạnh. Và nguy cơ chết sớm được dùng hù doạ cánh đàn ông nếu họ không sử dụng thuốc hạ cholesterol để điều trị tình trạng tăng cholesterol.

FDA phát hiện thuốc chữa bệnh tiểu đường này của GSK che giấu số liệu an toàn.

Theo Moynihan và Cassels, trong khi tung ra những chiến dịch hù doạ, các công ty dược phẩm cũng che giấu sự thật về các vấn đề sức khoẻ và sản phẩm thuốc. Đơn cử với tình trạng tăng cholesterol máu, ngày nay y học gần như thừa nhận rằng đây chỉ là một trong nhiều yếu tố có thể làm phát sinh bệnh tim mạch. Ấy vậy mà hầu như ai cũng chăm chú vào tình trạng tăng cholesterol vì đơn giản nó có thể được điều chỉnh bởi thuốc. Chuyên gia về lĩnh vực y tế công cộng và bệnh tim mạch, giáo sư nổi tiếng người Anh Shah Ebrahim, khẳng định những loại thuốc hạ cholesterol – nhóm statin – hiệu quả với những ai có sẵn vấn đề tim mạch. Còn những ai chưa có vấn đề này, nên áp dụng những giải pháp rẻ tiền và hiệu quả hơn như cải thiện chế độ ăn, siêng năng tập luyện và ngừng hút thuốc.

Thế nhưng khi quảng cáo thuốc đến người tiêu dùng, hầu như không hãng dược phẩm nào nói lên sự thật này chứ chưa nói đến chuyện công khai sự thật về tác dụng phụ của thuốc để mọi người nắm rõ. Năm 2001, Bayer phải thu hồi loại statin có tên Baycol khi sản phẩm này làm 52 người thiệt mạng và hơn 6 triệu người trên toàn thế giới đối mặt với tác dụng phụ tan cơ sau sử dụng thuốc. Có nhiều bằng chứng cho thấy Bayer biết rõ những nguy cơ trên, nhưng họ vẫn bỏ qua vì yếu tố lợi nhuận.

Câu chuyện GSK tuần qua cũng là một minh chứng về trò quảng cáo láo. Qua điều tra, cơ quan Quản lý thực phẩm và dược phẩm Mỹ (FDA) phát hiện hãng dược phẩm này đã che giấu các số liệu về sự an toàn của thuốc chữa bệnh tiểu đường Avandia. Với hai loại thuốc chống trầm cảm Paxil và Wellbutrin, sự việc tồi tệ hơn nhiều: họ quảng cáo sử dụng Paxil cho trẻ em trong khi nghiên cứu sau đó cho thấy thuốc có nguy cơ khiến trẻ em muốn tự sát, còn với Wellbutrin dù thuốc chỉ chữa được bệnh trầm cảm nhưng lại được quảng cáo chữa cả chứng tăng cân và giảm ham muốn tình dục!

Kỳ 2: Liên minh móc túi bệnh nhân

Với những chiến dịch tiếp thị khai thác nỗi sợ hãi của con người về tình trạng lão hoá, bệnh tật và cái chết, nền công nghiệp dược phẩm thế giới hứa hẹn ngày càng ăn nên làm ra, không dừng lại ở con số ước tính 500 tỉ đôla Mỹ như hiện nay. Tuy nhiên, trong cuộc kinh doanh số phận con người này, các hãng dược không thể thành công nếu không có sự liên minh của giới bác sĩ, nghiên cứu y học, thậm chí là quan chức y tế.

Một trang quảng cáo cho thuốc hạ cholesterol máu Crestor.

Bắt đầu từ miếng bánh pizza

Hàng chục năm qua, nhà báo y tế nổi tiếng người Úc Ray Moynihan đã nỗ lực điều tra vạch trần chiêu trò làm ăn của những tập đoàn dược phẩm. Năm 2003, trong bài báo hai kỳ đăng trên tạp chí British Medical Journal có tựa Ai trả tiền món bánh pizza? Xem xét lại quan hệ giữa bác sĩ và công ty dược (Who pays for the pizza? Redefining the relationships between doctors and drug companies), ông cho biết một số nghiên cứu đã chứng minh: ở nhiều quốc gia 80 – 95% bác sĩ thường xuyên tiếp xúc với trình dược viên các hãng thuốc và hậu quả là thói quen kê toa của họ cho bệnh nhân bắt đầu “có vấn đề”.

Theo Moynihan, tất cả thường bắt đầu từ những chiếc bánh pizza miễn phí mà trình dược viên mua bồi dưỡng cho những ca kíp cực nhọc trong bệnh viện. Rồi mức độ trao tặng của công ty dược cho bác sĩ ngày càng tăng, từ quà tặng, vé tham dự hoà nhạc, tài trợ dự hội thảo khoa học đến những chuyến du lịch đắt tiền, thậm chí là tiền bạc thông qua cổ phiếu.

Dĩ nhiên, một khi đã chấp nhận những lợi ích trên, các bác sĩ phải tự hiểu họ chỉ có một nghĩa vụ duy nhất là kê toa. Trong vụ GlaxoSmithKline (GSK) bị phạt 3 tỉ đôla Mỹ vừa qua, tập đoàn này đã thừa nhận hành vi hối lộ bác sĩ và khuyến khích giới này kê các loại thuốc tâm thần không phù hợp cho trẻ em. Nếu tham gia “cuộc chơi”, bác sĩ và người thân sẽ được du lịch đắt tiền ở khách sạn năm sao, chơi lướt ván, đánh golf, câu cá và những hoạt động khác do GSK chi trả. Theo điều tra, trong năm 2000 và 2001, GSK đã tổ chức tám sự kiện quảng cáo thuốc kéo dài ba ngày rất hấp dẫn cho bác sĩ tại Puerto Rico, Hawaii và Palm Springs – California. Khi tham dự, mỗi bác sĩ còn được bỏ túi 750 đôla và mỗi báo cáo viên 2.500 đôla Mỹ.

Không chỉ GSK mà nhiều tập đoàn dược phẩm cũng áp dụng chiêu trò trên. Năm qua Bristol-Myers Squibb đã bị chính quyền Mỹ kết tội lại quả tiền bạc, dùng quà tặng và các chuyến du lịch để đánh đổi việc bác sĩ kê các loại thuốc đắt tiền như Plavix, Abilify và Avapro, các sản phẩm chiếm hơn một nửa doanh thu 19,5 tỉ USD của hãng trong năm trước đó. Tính ra kể từ năm 1999 – 2005, hãng này đã lại quả tiền cho bác sĩ gần 15.000 lần!

Đủ chiêu moi tiền bệnh nhân

Vào cuối những năm 1990, sản phẩm Prozac – tên hoá học fluoxetine – của tập đoàn dược Lilly sắp hết bản quyền. Tập đoàn này đứng trước nguy cơ mất hàng trăm triệu đôla vì sự xuất hiện của những đối thủ generic (thuốc gốc) có giá rẻ. Năm 1998, Lilly tổ chức một hội thảo “bàn tròn” gồm các nhà nghiên cứu để bàn luận về PMDD, một hình thức nặng của hội chứng tiền mãn kinh. Hội thảo gồm 16 chuyên gia hàng đầu của FDA và bốn đại diện của Lilly. Suốt một năm sau đó, nội dung hội thảo xuất hiện trên nhiều tạp chí y học để rồi sau cùng người ta phải đi đến đồng thuận rằng PMDD là “một tổng thể lâm sàng riêng biệt”. Cuối năm 1999, ban cố vấn của FDA chấp thuận cho fluoxetine của Lilly sử dụng để điều trị PMDD. Lần này nó không còn mang tên Prozac mà có tên Sarafem với dạng viên màu tím và hồng nhạt!

 

Trong thực tế, tiền bạc mà những công ty dược bỏ ra “thuê” bác sĩ kê toa được tính vào túi bệnh nhân. Một nghiên cứu ở Na Uy ước tính hàng năm nước Anh có thể tiết kiệm hơn 100 triệu đôla và nước Mỹ tiết kiệm 500 triệu đến 1 tỉ USD nếu bác sĩ kê cho bệnh nhân các loại thuốc giá rẻ. Một nghiên cứu của Úc cũng cho thấy người dân nước này tiết kiệm được 100 triệu đôla mỗi năm nếu bác sĩ kê cho họ các loại thuốc cũ nhưng hiệu quả tương đương.

Đánh bật mọi rào cản

Không chỉ với bác sĩ, bằng tiền bạc thừa mứa, các tập đoàn dược phẩm còn cắt đứt được những mắt xích quan trọng khác của hệ thống bảo vệ sức khoẻ con người. Theo Ray Moynihan, có đến 60% nghiên cứu y sinh học và phát triển ở Mỹ được tài trợ bởi tư nhân mà đa phần là công ty dược phẩm. Trong vài lĩnh vực như thí nghiệm thuốc trầm cảm, con số này thậm chí lên đến 100% và hầu như tất cả thử nghiệm lâm sàng về thuốc trầm cảm mới đều được tài trợ bởi những công ty dược thay vì các quỹ công hoặc phi lợi nhuận. Trong trường hợp này, giá trị khách quan của nghiên cứu là một câu hỏi lớn vì xung đột lợi ích là quá rõ.

Ngay cả những người nổi tiếng, các giáo sư có ảnh hưởng lớn trong giới y khoa cũng bắt tay với hãng dược để buôn bán bệnh tật. Năm 2004, dân Mỹ đã căm giận tột cùng về hành động trơ trẽn của TS H. Bryan Brewer, bác sĩ và nhà khoa học hàng đầu của viện Sức khoẻ quốc gia Hoa Kỳ. Tại một hội thảo của hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ, Brewer nhận xét Crestor, sản phẩm dùng hạ cholesterol máu của tập đoàn dược AstraZeneca, “an toàn và hiệu quả cho người dùng”. Ý kiến này được đánh giá là có giá trị đến nỗi được tạp chí Tim mạch Hoa Kỳ đăng lại trong một số đặc biệt cho giới y khoa nghiền ngẫm, đúng vào dịp Crestor được tung ra thị trường. Trớ trêu thay, sau đó người ta phát giác Brewer cũng là cố vấn được AstraZeneca… trả tiền. Một số nhà khoa học còn phát hiện Brewer cố ý không đề cập đến một số tác dụng phụ chết người của Crestor!

Quan chức y tế, những người phòng thủ sau cùng, cũng bị “hạ gục” dễ dàng bởi các tập đoàn dược phẩm. Năm 2004, khi định nghĩa về tăng cholesterol trong hướng dẫn trị liệu (guideline) của viện Sức khoẻ quốc gia Hoa Kỳ được xem xét lại, đột nhiên 4 triệu người dân nước này bị liệt vào diện phải dùng các thuốc hạ cholesterol. Thế nhưng sau đó mọi người mới vỡ lẽ tám trong chín chuyên gia thực hiện hướng dẫn trị liệu là những người chuyên đi báo cáo, nghiên cứu và cố vấn được trả tiền bởi các ông trùm dược phẩm như Pfizer, Merck, Bristol-Myers Squibb, Novartis, Bayer, Abbott, AtraZeneca và GSK. Mối liên hệ này không được nói đến trong hướng dẫn trị liệu được công bố cho công chúng, cho đến khi báo chí phát hiện.

Kỳ cuối: Cuộc chiến bất tận

Bê bối vừa qua của GlaxoSmithKline được phơi bày do bốn nhân viên của hãng này âm thầm tìm bằng chứng tố cáo. Trò ma mãnh của nhiều công ty dược phẩm khác được phanh phui nhờ sự điều tra của giới truyền thông. Con người ngày càng cảnh giác với trò kinh doanh bệnh tật của các tập đoàn dược phẩm, nhưng mọi chuyện khó lòng ngã ngũ khi đồng tiền của các hãng dược quá lớn và những người liên quan còn mờ mắt bởi tiền bạc.

Nói không với sự tiếp tay cho hãng dược

Năm 2000, Bob Goodman, một bác sĩ nội trú ở New York (Mỹ) đã lập ra tổ chức No Free Lunch (Không ăn trưa miễn phí) để đối đầu với chiêu trò của các công ty dược phẩm trong việc liên minh cùng bác sĩ kê toa móc túi bệnh nhân. Hiện ước tính tổ chức này có 500 thành viên, và họ bỏ công đi nhiều cơ sở y tế vận động các bác sĩ cam kết không chấp nhận quà tặng, tiền bạc hay những lợi ích khác của hãng dược; không sử dụng những nguồn thông tin sai lệch và không dựa vào thông tin do các hãng dược cung cấp; không để xảy ra xung đột lợi ích khi khám bệnh, giảng dạy và nghiên cứu. No Free Lunch cũng kêu gọi các bác sĩ không nhận thuốc mẫu (drug sample) mà công ty dược cung cấp vì họ tin rằng chính thuốc mẫu sẽ tạo ra thói quen cho bác sĩ sử dụng các thuốc này hơn là những loại thuốc khác cho dù chúng có cùng công thức, hiệu quả và thậm chí có giá thấp hơn.

Nghiên cứu cho thấy 30% bệnh nhân cho biết họ đã hỏi bác sĩ về một loại thuốc quảng cáo và 44% trong số bệnh nhân này cho biết sau khi hỏi, bác sĩ đã kê cho họ những thuốc mà họ quan tâm!

Hoạt động của No Free Lunch đã tạo cảm hứng cho những điều tốt đẹp khác: ở Úc ra đời tổ chức Healthy Skepticism (tạm dịch Chủ nghĩa hoài nghi khoẻ mạnh) với mục đích hạn chế những nguy hại do thông tin sức khoẻ sai lệch, còn ở Mỹ hiệp hội Sinh viên y khoa (AMSA) phát động chiến dịch “Đúng lúc nói không với trình dược viên”. Nhiều thành viên của AMSA cũng đề nghị xem lại lời thề Hippocrate, đưa vào một lời thề mới cho bác sĩ thời nay là: “Tôi sẽ đưa ra những quyết định y khoa… không bị ảnh hưởng bởi những chiến dịch quảng cáo. Tôi sẽ không chấp nhận tiền bạc, quà tặng hay sự chiêu đãi thân mật mà điều này tạo ra xung đột lợi ích cho việc học tập, thực hành, giảng dạy hay nghiên cứu của tôi”.

Cảnh giác với tập đoàn dược phẩm cũng là chiến dịch được các hội nghề nghiệp hay tổ chức giáo dục đặt ra. Trong hướng dẫn mới của hiệp hội Các trường y khoa Hoa Kỳ gửi cho hơn 100 trường khắp quốc gia, người ta đã đưa vào một câu: “Một cá nhân đang nắm giữ một lợi ích tài chính đáng kể trong nghiên cứu liên quan đến con người thì không nên tiến hành nghiên cứu đó”.

 

Bác sĩ Bob Goodman, người sáng lập tổ chức No Free Lunch.

Con rắn và cây gậy

Tuy nhiên, bất chấp những phản đối gay gắt dành cho trò bắt tay giữa hãng dược và bác sĩ, và đòi hỏi sự tách biệt rõ ràng giữa hai thế giới, liên minh này vẫn tồn tại vì nhiều lý do. Trước tiên, công bằng mà nói, nhờ sự giúp đỡ của các công ty dược mà bác sĩ có cơ hội tham dự những cuộc hội thảo khoa học, cập nhật kiến thức chuyên môn để phát triển nghề nghiệp. Cần biết là chi phí để tham dự những hoạt động nâng cao nghề nghiệp này không nhỏ. Theo ước tính của nhà khoa học Anh Emma D’Arcy, chi phí mà nền công nghiệp dược bỏ ra cho bác sĩ học tập liên tục là rất lớn: chiếm 35% số tiền 9 – 14 tỉ đôla Mỹ hàng năm mà nền công nghiệp này bỏ ra để hỗ trợ giáo dục. Nếu không còn sự tài trợ này, người bác sĩ ngày mai sẽ chữa trị bệnh nhân bằng kiến thức y học của… ngày hôm qua. Emma nói: “Sự sáng tạo y học có thể bị cản trở nếu chúng ta giới hạn quá nhiều những tác động qua lại. Các nhà nghiên cứu và người hành nghề y có thể bị xúc phạm nếu những hạn chế như thế làm giới hạn khát vọng nghề nghiệp của họ”.

Hãy là bệnh nhân thông thái

Để tránh không bị các hãng dược dùng chiêu trò buôn bán bệnh tật móc túi, nhiều chuyên gia y học đã khuyên bệnh nhân tăng cường kiến thức y học và mạnh dạn trao đổi với bác sĩ những vấn đề về thuốc men khi khám bệnh. Ngoài ra, cũng nên trao đổi với nhiều bác sĩ để có cái nhìn đa chiều về loại thuốc sử dụng. Khi nghe nói về bất kỳ nghiên cứu y học nào liên quan đến vấn đề sức khoẻ của mình, bệnh nhân nên đặt ra những câu hỏi như: Ai tài trợ nghiên cứu đó? Có xung đột lợi ích nào giữa người nghiên cứu và phía tài trợ? Nghiên cứu đã được thông qua chưa và có phải do một tổ chức uy tín xem xét?

Một lý do khác là bệnh nhân (người tiêu dùng) đang bị bủa vây bởi vô số quảng cáo về thuốc men và khó lòng thoát khỏi những cuộc dội bom thông tin này. Theo một nghiên cứu của Kaiser Family Foundation công bố tại Mỹ vào năm 2003 (“Tác động của quảng cáo trực tiếp đến người tiêu dùng trên chi tiêu thuốc kê toa”) nước này đã chi 140,6 tỉ đôla cho việc dùng thuốc kê toa vào năm 2001, nhiều hơn gấp ba lần so với năm 1990. Từ năm 2000 – 2001, chi tiêu cho việc này tăng 16%, trong khi chi tiêu cho các dịch vụ lâm sàng và bác sĩ tăng 9% còn chi tiêu cho điều trị ở bệnh viện tăng 8%. Sự chi tiêu nhiều cho thuốc kê toa được giải thích bằng nhiều lý do: bác sĩ kê toa cho bệnh nhân nhiều thuốc hơn, giá thuốc tăng và thuốc mới mắc tiền đang thay thế các thuốc giá rẻ. Tuy nhiên, lý do quan trọng nhất khiến chi tiêu thuốc men tăng lên là bệnh nhân bị tác động bởi chính các quảng cáo của hãng dược. Nghiên cứu cho thấy 30% bệnh nhân cho biết họ đã hỏi bác sĩ về một loại thuốc quảng cáo và 44% trong số bệnh nhân này cho biết sau khi hỏi, bác sĩ đã kê cho họ những thuốc mà họ quan tâm!

Với những lý do trên, có thể thấy cuộc chiến giành lại quyền lợi của bệnh nhân (được bác sĩ kê toa đúng bệnh, đúng thuốc, sử dụng thuốc giá hợp lý) trong trò kinh doanh bệnh tật của các tập đoàn dược phẩm không hề đơn giản. Không đơn giản vì lý do chính, đó là không ít bác sĩ và nhà nghiên cứu y học chấp nhận khăng khít với các hãng dược không khác gì con rắn quấn quít quanh cây gậy, biểu tượng của… y học phương Tây!

BÀI: PHAN SƠN
ẢNH: TL

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s