Bàn góp về “Diện chẩn liệu pháp”

Hà Văn Thùy

Báo Người Lao động số ra ngày 29 tháng 8 năm 2008 có bài “Diện chẩn, nhân điện chữa… cả SIDA ?” của hai đồng nghiệp Thiên Nga và Nguyễn Cẩm. Do không biết nên tôi không nói về Nhân điện. Còn Diện chẩn, vì có chút ít thực tế, xin bàn góp đôi lời.

Trước hết, tôi thấy bài viết của hai đồng nghiệp đã phản ánh đúng tình hình cơ sở chữa bệnh 247A/32 Huỳnh Văn Bánh. Việc Thanh tra Y tế xử lý đối với cơ sở này là đúng luật và cần thiết để bảo vệ kỷ cương.

Tôi có mấy lời về cách chữa bệnh này.

Hai chục năm trước, tôi được nghe ông Bùi Quốc Châu trình bày về “Diện chẩn-điều khiển liệu pháp” mà ông nói ông là người phát  minh. Do có chút ít hiểu biết về cơ thể học và Dịch lý, Y lý phương Đông, tôi cho rằng cách chữa bệnh của ông Châu là có cơ sở khoa học. Mặt là bộ phận đặc biệt của con người. Cổ nhân nói “gương mặt” với nghĩa mặt là cái gương phản ánh không chỉ hỷ, nộ, ái, ố mà còn thể hiện tình trạng sức khỏe nói chung hay sự đau yếu của từng bộ phận. Như vậy, việc trên mặt có những “huyệt”, có kênh thông tin – “đạo”, dẫn tới những bộ phận tương ứng của cơ thể là điều dễ hiểu. Những “đồ hình” – hình vẽ thể hiện mối liên quan giữa khuôn mặt với các bộ phận khác nhau của cơ thể người, theo tôi là hơp lý và là khám phá lớn về cơ thể học. Có lẽ nhận ra điều này từ lâu nên tổ tiên ta đặt tên các bộ phận trên người thật ý nghĩa: cổ là cần cổ mà cũng là cổ tay, cổ chân. Đầu là đầu mà cũng là đầu ngón tay, ngón chân. Nhìn hai ổ mắt, ta thấy đó đúng là hình của bộ sinh dục với buồng trứng (tinh hoàn), vòi trứng (ống dẫn tinh). Lạ thay, đó cũng là tượng hình của hai cánh tay… Vì vậy, tôi cho rằng, việc tìm ra hơn 500 “huyệt” trên mặt người là đóng góp lơn cho y học dân tộc. Dịch lý, Y lý nói: “Bất thông tắc thống” có nghĩa là khi kinh mạch bị ứ trệ, không thông suốt sẽ gây ra bệnh tật. Khi làm cho kinh mạch thông suốt, bệnh tất khỏi. Vì vậy, khi tác động có chủ ý vào một số “huyệt” nhất định, sẽ tạo ra luồng thông tin tập trung vào khu vực nào đó, “giải phóng” những ứ trệ, ách tắc, dẫn tới khỏi bệnh. Biết vậy nhưng vì không thuộc phạm vi chuyên môn của mình, tôi không quan tâm, chỉ mong cho ông Châu mau chóng thành công.

Tháng 6 vừa rồi, người bạn ở Paris về nước, tới thăm. Đúng lúc đó, do tôi tập thể dục quá mạnh, nên bị đau sống lưng, đứng lên ngồi xuống rất đau. Anh đã lấy thỏi đá thạch anh (quart) có một đầu nhọn, ấn những huyệt trên mặt tôi. Khoảng 5 phút sau, tôi bớt đau. Sau vài lần thì khỏi. Anh cho biết, từ năm 2000, anh làm phiên dịch cho thầy Thắng chữa bệnh ở Pháp nên học được nghề của thầy. Anh dẫn tôi với tư cách nhà văn đi thực tế cơ sở chữa bệnh của cụ Thắng. Không thể kiểm chứng được đã trị khỏi cho những ai, nhưng được biết, cụ Trần Dũng Thắng được mời tới 25 nước và vùng lãnh thổ để chữa bệnh. Một tỷ phú Đài Loan được cụ trị khỏi bệnh đã thuê người dịch cuốn sách “Diện chẩn-Điều khiển liệu pháp” của cụ ra tiếng Hoa rồi cho in ở Đài Bắc.

Trong cuốn sổ lưu bút của cụ, có những dòng sau :

“Lyon, 5-10-2000.
Kính thưa Cụ,

Tôi hân hạnh được ghi vài lời trong quyển bút ký đặc biệt này, không phải với tư cách cá nhân tôi, linh mục tuyên úy của cộng đồng Công giáo địa phận Lyon, nhưng với tư cách thành viên của nhóm thân hữu Lyon đã được gặp Cụ, học ở Cụ và quý mến Cụ, ngay từ buổi đầu, Chủ nhật 1. 10. 2000. Trước hết, tôi thành thực cảm ơn Cụ, đã rộng rãi nhận lời mời tới Lyon. Cám ơn Cụ đã dành rất nhiều ưu ái cho nhóm Lyon.

Cụ đã đem niềm vui và nguồn bình an lạ lùng cho chúng tôi khi giới thiệu môn y học thuần túy Việt Nam với cái nhìn sâu sắc, thực tiễn, đơn thuần mà thâm thúy vô cùng. Chúng tôi bắt được những nét sâu sắc này và thấy những rung cảm nhiệm màu là bởi vì môn y học này là của Việt Nam và chúng tôi là người Việt Nam.

Cụ đã đem niềm tin đến cho chúng tôi và đã  khơi nguồn nhân nghĩa trong tôi và trong nhóm thân hữu Lyon. Với nguồn phấn khởi này, tôi như được thấy mình mới ra, thấy yêu người hơn và thấy cuộc đời nó đáng yêu hơn, trước những đau khổ của anh em đồng loại.

Riêng tôi, tôi thấy ở nơi Cụ một trái tim lớn và thật đáng yêu.

Nếu Thiên Chúa là Tình Yêu và Sự Sống, thì tôi thấy nơi Cụ có nhiều phần Thiên Chúa.
Cụ là người có phúc và tôi cầu mong Cụ tiếp tục đem và trao Phúc cho muôn người qua kiến thức sâu rộng của Cụ, qua cách thức rao truyền dễ hiểu và hấp dẫn và nhất là qua sức mạnh của trái tim rất nhân ái của Cụ.

Rất kính mến Cụ. Bernard Hải. Lyon Pháp quốc (với 13 học viên đã dự khóa, trong đó có hai bà bác si và một kỹ sư nguyên tử lực)

Và đây là lời của một vị hòa thượng được trị bệnh nhồi máu cơ tim và sạn túi mật :

“Đã bao lần vào ra bệnh viện, đã mấy lần bác sĩ bảo ký để lên bàn mổ, nhưng tôi xét rằng, cái thân xác này ngoài 80 cũng đã đến thời kỳ băng hoại, liệu rằng vết thương sau khi mổ có an toàn chăng ? Đó là nỗi băn khoăn lo lắng của tôi do đó tôi quyết định rời viện.

Hôm nay thật là một túc duyên may mắn, tôi gặp ông. Niềm băn khoăn của tôi nhẹ hẳn, thân xác của tôi giờ khác thường, có nghĩa là khỏe và sảng khoái, những bước đi, những lời nói, những thức ăn đưa vào miệng tôi không cảm thấy khó khăn như trước đây (cách đây năm ngày, khi tôi chưa gặp ông)

Thật là một điều kỳ diệu. Tôi mong rằng ông đem phương pháp “nhiệm màu” đó đi ban rải khắp nơi, để mọi người đau đớn vượt qua những nỗi quằn quại hiểm nghèo. Đó là một việc làm thiết thực nhất trong việc cứu người.

Tôi cùng tất cả những bệnh nhân do ông chữa lành thành thật tri ân và nhớ ơn đời đời.
Tam Bảo tự 10. 11. 04.

Hòa thượng Thích Thiện Nguyệt, trụ trì Bồ đề đạo tràng Bình Chuẩn, Bình Dương.

Và đây là bác sĩ sản khoa :
29- 10- 2002
Kính thưa Thầy Trần Dũng Thắng,
Con là bác sĩ Cao Thị Xuyến, cư ngụ tại số nhà 55 Nghĩa Thục phường 5 quận 5, từng công tác tại sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh. Hai lần con bị bệnh. Hai lần con được Thầy chữa trị cho con :

Năm 1999 con bị té, chân dập, bị khối máu tụ to không đi lại được. Đã được Trung tâm Chỉnh hình điều trị 2 tuần mà không tan được khối máu. Sau khi được thầy trị bằng phương phap Diện chẩn, 2 ngày sau, khối máu tự tan dần, ngày thứ tư xẹp hẳn, không để lại di chứng gì hết.

Ngày 29- 10- 2002, con bị rối loạn tiền đình, chóng mặt, ngồi dậy là bị té ập người xuống giường, trời đất, nhà cửa quay cuồng, phải cấp cứu ở bệnh viện Nguyễn Trãi. Thầy đến điều trị cho con chỉ 2 lần, con đã ngồi dậy được và tới nay đã đi lại gần như bình thường.

Một liệu pháp trị bệnh thật kỳ diệu mà không phải cần gì đến thuốc men hoặc tiêm thuốc, châm cứu gì cả. Là một bác sĩ sản, ngoại,  chuyên về Tây y, phẫu thuật để chữa trị cho người bệnh, vửa tốn nhiều tiền bạc, có khi còn gây đau đớn mất mát cho bệnh nhân, con cảm nhận bộ môn trị liệu của Thầy là một phương pháp trị bệnh cực kỳ khoa học, tấn công vào mọi thứ bệnh thông thường cũng như nhiều bệnh nan y, nhanh, gọn, kết quả trông thấy rõ ràng ngay.

Con rất kính Thầy và rất cảm ơn thầy. Kính mong Thầy khỏe mạnh, sống lâu để cứu người và truyền bá kinh nghiệm, kiến thức của Thầy cho nhiều thế hệ mai sau.

Với khuôn khổ của bài báo, tôi không thể dẫn ra những lời gan ruột của bác sĩ Lê Thị Hoàn, Khoa nhi Bệnh viện Bạch mai Hà Nội; Bác sĩ Đỗ Phạm Thị Nga ở Lyon, Pháp; Bác sĩ  Hoàng Gia Hùng, Sacramento- California; Đại tá Không quân hồi hưu Nguyễn Minh; ông Trần Đình Sơn ở Luân Đôn… cảm ơn Cụ Trần Dũng Thắng.

Như vậy, có thực tế là: cơ sở chữa bệnh của cụ Thắng đã tồn tại hơn 10 năm nay. Nhiều người được chữa khỏi bệnh. Chưa từng có tai nạn nào cho người bệnh. Tiếng thơm của Cụ đã truyền đi xa, ra bốn biển năm châu. Nhiều người hiểu biết cho đó là phương pháp trị bệnh độc đáo của dân tộc…

Một vấn đề đặt ra lúc này là: xã hội hành xử thế nào với sự việc, với con người như Cụ Trần Dũng Thắng?
Tôi được biết, ngày Đoàn Thanh tra Y tế đến làm việc thị Cụ Thắng dược mời sang chữa bệnh ở Tesax, Mỹ. Ngay tối 28. 8. 2008, có thân chủ mang bài báo đăng trên Vietnamnet đưa cho Cụ và Cụ ra về đột xuất trước sự ngạc nhiên bối rối của mọi người.

Chúng ta đều biết, đường vốn không tự nhiên mà có. Đi lại nhiều sẽ thành đường. Nghề Y học dân tộc mà nay có được cũng bắt đầu từ Cụ Tổ Thần Nông nếm cây chữa bệnh, ngày chết đi sống lại đến 5 lần. Đã có thời sau ở miền Bắc, bị coi là không khoa học nên các ông lang ở thôn quê bị cấm hành nghề, dao cầu, thuyền tán bị phá bỏ, người dân không được chữa bệnh, trong khi cán bộ ý tế chỉ có thể đến trên đầu ngón tay! Rồi trước nhu cầu chữa bệnh của dân, con cháu những ông lang xưa đọc sách, học lại nghề tổ tiên, chữa bệnh cứu người. Họ cũng bị cấm đoán, lùng bắt, phạt vạ đủ đường. Và chính nhờ sự kiên trì và hữu dụng của họ, dần dần Đông y được công nhận là Y học cổ truyền dân tộc!

Nghiên cứu về văn hóa Việt thời cổ đại, tôi được biết, từ thiên niên kỷ thứ IV trước Công nguyên, tổ tiên ta đã là chủ nhân của nền văn minh nông nghiệp lúa nước phát triển nhất thế giới, trong đó, thuật chữa bệnh đã rất cao. Không chỉ dùng thảo mộc, động vật, đá, kim loại làm thuốc uống, châm, cứu, người Việt còn có thuật chữa “mẹo”. “khoán” và bùa, ngải… Phần nhiều cách chữa bệnh cổ đã thất truyền.

Có sự thật là, cho dù chưa hề có công trình nghiên cứu nào về cách chữa bệnh này, cơ quan hữu quan chỉ áp đặt, cho là “không khoa học” hay “mê tín dị đoan” rồi cấm. Nhưng hiểu thế nào là mê tín dị đoan?. Có lẽ “mê tín” nhất là chuyện gọi hồi tìm mộ. Nhưng nhiều nhà ngoại cảm đã tìm ra hàng ngàn hài cốt liệt sĩ bằng cách gọi hồn. Một thực tế hiển nhiên đến mức nhà nước đã có một chương trình quốc gia về đề tài trên. Vì vậy, thiết tưởng việc cấm đoán những cách chữa bệnh khác ngoài Đông y và Tây y cần được xem xét lại.

Riêng với trường hợp của Cụ Trần Dũng Thắng, tôi xin đề nghị :

Sở Y tế tạo cơ sở pháp lý cho Cụ hành nghề trong sự quản lý của Y tế quận Phú Nhuận. Sở cũng nên xây dựng đề tài nghiên cứu liệu pháp Diện chẩn bằng cách cử bác sĩ Đông y giỏi kết hợp với cơ sở của Cụ Thắng: lập bệnh án của bệnh nhân, với những trường hợp đáng chú ý thì theo dõi phác đồ điều trị và kết quả. Chỉ cần khoảng 2 năm, không tốn kém bao nhiêu, chúng ta có một công trình nghiên cứu giá trị. Nếu nghiên cứu có triển vọng, thì với uy tín cùa Cụ Thắng, có thể liên kết nghiên cứu với bệnh viện lớn nước ngòai, sáng chế dụng cụ đo những biến động về nội tiết, kinh lạc, dòng điện sinh học… khi tác động định hướng lên những huyệt để chữa bệnh.

Với hiểu biết của mình, tôi cho rằng Diện chẩn là thành tựu tuyệt vời của y học cổ Việt Nam mà may mắn ông Bùi Quốc Châu khám phá ra. Nếu Việt Nam có một giải Nobel Y học, chắc chắn là từ đề tài này nếu chúng ta bỏ công nghiên cứu.

Nhà nước chủ trương xã hội hóa y tế. Theo tôi, một hướng xã hội hóa là phát huy mọi nguồn lực trị bệnh trong dân. Ngành là cơ quan nâng đỡ cho trí tuệ, tâm linh dân tộc đang còn ẩn náu vì sợ sệt được ra ánh sáng, chứ không phải chỉ chăm chăm cấm đoán. Chắc chắn việc làm này sẽ phát huy được nguồn lực trị bệnh lớn đang tiềm ẩn trong dân gian. Tôi nghĩ tới những người quá nghèo, những bệnh nhân bị bệnh viện trả về chờ chết vẫn tới với Thầy Thắng, dù với phần nghìn tia hy vọng. Nay họ đi đâu? Lẽ nào chúng ta tước đi của họ niềm hy vọng cuối cùng này  ?

Tân Phú. Trung Thu 2008
H.V.T

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s